Ruộng bậc thang giữ nước nhờ ba thứ phối hợp: nguồn nước từ khe rừng phía trên, đường dẫn (mương đất, ống tre, ống nhựa) đưa nước tới thửa cao nhất, và bờ ruộng có các cửa tràn để nước chảy lần lượt xuống thửa dưới. Mỗi thửa vừa là chỗ cấy vừa là một bể chứa nhỏ; nước chảy qua cả chuỗi thửa rồi mới về suối dưới chân.
Nghe thì đơn giản, nhưng để cả sườn núi đủ nước đúng lúc là cả một hệ thống kỹ thuật và tập quán. Bài này đi từ đầu nguồn xuống chân dốc: nước lấy ở đâu, dẫn bằng gì, bờ ruộng được làm thế nào để không sụt, vì sao lớp bùn đáy quan trọng, và người trong bản thoả thuận chia nước ra sao khi mùa khô kéo dài.
Đầu nguồn: rừng là bể chứa nước của ruộng
Hầu hết ruộng bậc thang vùng cao không có hồ chứa hay trạm bơm. Nước đến từ các khe nhỏ chảy ra từ rừng trên đỉnh và lưng núi. Tán rừng và lớp lá mục, rễ cây làm nước mưa ngấm chậm vào đất, rồi rỉ ra thành khe trong nhiều tuần, nhiều tháng sau. Nhờ vậy, đến cuối mùa khô, khi mưa đầu mùa vừa về, các khe dưới rừng vẫn còn nước để bắt đầu đổ ruộng.
Đó là lý do nhiều bản có tục giữ rừng đầu nguồn: không chặt cây, không đốt nương ở khu rừng nằm phía trên mạch nước. Người dân hiểu rằng rừng trên khô thì ruộng dưới khô. Ở những nơi rừng phía trên bị chặt để làm nương hay trồng cây khác, các khe thường cạn nhanh hơn, mùa mưa lại đổ nước đục, kéo theo đất đá.
Khi bạn đi bộ qua một vùng ruộng bậc thang, hãy nhìn lên phía trên sườn ruộng: gần như luôn có một mảng rừng sẫm màu ở đỉnh hoặc trong các khe lõm. Mảng rừng ấy không phải phần thừa của cảnh quan mà là phần quyết định ruộng có nước hay không.
Dẫn nước: từ khe xuống thửa cao nhất
Mương đất men sườn. Cách phổ biến nhất là đào một con mương nhỏ chạy gần như nằm ngang theo sườn núi, độ dốc rất nhẹ, bắt nước từ khe rồi dẫn vòng qua nhiều sườn tới đầu khu ruộng. Mương có thể dài hàng cây số, uốn theo địa hình. Độ dốc phải vừa: dốc quá nước chảy xiết làm lở bờ mương, thoải quá thì nước đọng và mương nhanh bị bồi.
Ống tre, ống gỗ, ống nhựa. Ở chỗ phải vượt qua một khe sâu hay một vách đá, người ta nối ống tre bổ đôi, máng gỗ hoặc gần đây là ống nhựa mềm. Ống nhựa rẻ và tiện nên rất phổ biến, nhưng nhiều đường ống chằng chịt cũng là dấu hiệu nước khan và mỗi nhà phải tự kéo nước riêng.
Phai chặn suối. Ở các thung lũng có suối lớn như vùng người Thái, người Mường, người ta đắp phai (đập nhỏ bằng đá, gỗ, cọc tre) để nâng mực nước suối rồi chia vào mương. Mương phai của người Thái là một hệ thống nổi tiếng, chạy qua cả cánh đồng thung lũng.
Guồng nước (cọn). Nơi ruộng nằm cao hơn mặt suối mà không có khe tự chảy, người ta dựng guồng tre quay bằng sức nước, các ống tre gắn quanh vành múc nước đổ vào máng. Guồng nước còn thấy ở Pù Luông và một số thung lũng người Thái ở Tây Bắc, Thanh Hoá, nhưng đang ít dần khi máy bơm nhỏ và ống nhựa thay thế.
Bờ ruộng: phần khó nhất của ruộng bậc thang
Mỗi bậc ruộng giữ được nước là nhờ bờ ngoài. Bờ phải đủ cao để giữ lớp nước cần thiết, đủ chắc để không vỡ khi nước dồn, và đủ kín để không rò. Người làm ruộng thường đắp bờ bằng đất sét lấy ngay trong thửa, nện chặt, rồi trát một lớp bùn nhão lên mặt trong của bờ trước mỗi vụ cấy. Lớp bùn trát này bịt các lỗ hang cua, lỗ chuột và vết nứt từ mùa khô.
Mặt ngoài của bờ, tức vách đứng nhìn từ thửa dưới lên, thường để cỏ mọc. Rễ cỏ giữ đất, giúp vách không lở khi mưa lớn. Ở một số nơi có nhiều đá, chân vách được kè đá xếp khan để đỡ phần đất phía trên. Người dân cũng phát cỏ trên mặt bờ vừa đủ để đi lại, không xới trơ đất.
Bờ yếu nhất ở hai thời điểm: đầu vụ khi đất còn khô nứt mà nước vừa dồn vào, và giữa mùa mưa khi mưa dầm làm đất bão hoà. Một chỗ rò nhỏ không được vá có thể khoét rộng dần thành lỗ, nước cuốn đất ra, cuối cùng một đoạn bờ đổ sập xuống thửa dưới. Vì vậy, trong mùa cấy, người ta đi thăm ruộng gần như mỗi ngày, mang theo cuốc để vá bờ.
Với người ngoài, bờ ruộng là lối đi tiện để chụp ảnh. Với chủ ruộng, đó là phần công trình tốn công nhất. Một bước chân trên bờ mới trát có thể để lại vết lõm thành chỗ rò. Đây là lý do người dẫn đường bản địa luôn dặn khách đi trên lối chung.
Nước chảy qua một sườn ruộng như thế nào
Hình dung một sườn ruộng như một chuỗi bể nối nhau. Quá trình đổ nước đầu vụ thường diễn ra theo trình tự dưới đây.
- Khơi mương: trước vụ, cả bản hoặc nhóm hộ dùng chung mương đi dọn cỏ, vét đất bồi, đắp lại chỗ lở để nước chảy thông từ khe đến đầu khu ruộng.
- Đưa nước vào thửa cao nhất: nước từ mương được mở vào thửa trên cùng qua một cửa nhỏ trên bờ mương. Người ta chờ thửa này ngập đủ, bùn mềm ra.
- Mở cửa tràn xuống thửa dưới: trên bờ ngoài có những chỗ khoét thấp (cửa tràn hay "lỗ thoát"). Khi nước trong thửa trên dâng tới mức cửa, nước tự tràn xuống thửa dưới.
- Điều chỉnh mực nước: chủ ruộng đặt hòn đất, cục đá hoặc nắm cỏ để nâng hay hạ cửa tràn, giữ lớp nước theo ý muốn cho từng giai đoạn: làm đất, cấy, lúa đẻ nhánh, lúa trổ.
- Nước về suối: thửa cuối cùng xả nước ra khe hoặc suối ở chân sườn. Nước tiếp tục chảy về các bản và ruộng phía hạ lưu.
Nhờ cách chảy nối tiếp này, nước được dùng nhiều lần trên đường xuống, và mỗi thửa đều nhận được một phần phù sa mịn trôi từ thửa trên. Ngược lại, khi thửa trên có vấn đề (hết nước, vỡ bờ, phun thuốc), thửa dưới cũng chịu ảnh hưởng.
Chia nước trong bản: những cách làm thường gặp
Mỗi bản có tập quán riêng; bảng dưới đây chỉ là những kiểu thường được người dân và các nhà nghiên cứu nông nghiệp vùng cao mô tả, không phải quy định chung.
| Cách chia | Làm thế nào | Ưu và nhược |
|---|---|---|
| Chia theo thứ tự trên – dưới | Thửa trên nhận nước trước, đủ rồi mới cho chảy xuống | Đơn giản, tự nhiên; mùa khô thửa cuối dễ thiếu |
| Chia theo lượt, theo ngày | Các nhà thay phiên mở nước vào ruộng mình theo lịch bản thống nhất | Công bằng hơn khi nước ít; cần người theo dõi và giữ lời |
| Chia theo nhánh mương | Mương chính tách thành nhánh, mỗi nhánh phục vụ một nhóm hộ | Rõ trách nhiệm khơi mương; tranh chấp ở chỗ rẽ nhánh |
| Người giữ nước của bản | Một người hoặc nhóm được bản giao trông mương, mở đóng cửa nước | Giảm va chạm; phụ thuộc uy tín người được giao |
Điểm chung là chia nước gắn với nghĩa vụ góp công. Nhà nào không đi khơi mương thì khó đòi nước khi mùa khô. Những thoả thuận này thường không viết thành văn bản mà truyền miệng, được già làng, trưởng bản nhắc lại trong các buổi họp bản đầu mùa.
Khi một bản có nhiều homestay, nhà hàng dùng nước cùng nguồn khe với ruộng, chuyện chia nước có thể trở thành vấn đề mới. Đây là một trong những áp lực ít ai thấy của du lịch ở vùng ruộng bậc thang.
Lớp bùn đáy: thứ giữ nước mà mắt không thấy
Bờ giữ nước ở bốn phía, còn đáy thửa giữ nước nhờ một lớp đất rất mịn, dẻo, nằm ngay dưới lớp bùn cày. Lớp này hình thành qua nhiều năm cày bừa trong nước: hạt sét mịn lắng xuống, bị nén lại thành một tầng gần như không thấm. Nhờ nó, nước trong thửa không ngấm tuột xuống lòng núi mà chỉ thất thoát chậm qua bốc hơi và rò rỉ nhỏ.
Ruộng mới khai hoang chưa có tầng này nên rất hao nước, phải cấy vài vụ mới ổn. Ngược lại, khi một thửa bị bỏ khô nhiều năm, đất nứt nẻ, rễ cỏ và giun đục lỗ, tầng giữ nước bị phá vỡ; muốn cấy lại phải cày bừa trong nước nhiều lần. Đây là một lý do khiến người vùng cao ngại để ruộng nghỉ quá lâu.
Việc cày bừa kỹ đầu vụ, ngoài làm đất nhuyễn cho mạ, còn có tác dụng "khoá nước" cho thửa ruộng. Cảnh trâu kéo bừa đi đi lại lại trong ruộng nước mà du khách hay chụp chính là công đoạn này.
Khi hệ thống trục trặc: sạt bờ, khô hạn và mưa lớn
Khô hạn đầu mùa là nỗi lo thường gặp nhất. Năm mưa đến muộn, khe chỉ đủ nước cho vài thửa trên, các nhà phía dưới phải chờ. Lịch cấy lùi lại, kéo theo lúa trổ muộn và có nguy cơ gặp rét cuối mùa ở vùng cao. Những năm như vậy, cảnh ruộng nửa ngập nửa khô kéo dài, và nhiều nhà chuyển một phần ruộng sang trồng ngô hoặc đậu.
Mưa lớn kéo dài thì ngược lại: nước dồn quá nhiều làm tràn bờ, xói chân vách, có khi sạt cả một mảng ruộng. Mương men sườn cũng dễ bị đất đá từ trên lăn xuống lấp kín. Sau mỗi đợt mưa to, việc đầu tiên của bà con là đi kiểm mương, vá bờ. Du khách đi vào thời điểm này nên tránh các lối mòn sát mép ruộng và vách đất.
Thay đổi sử dụng đất là trục trặc chậm nhưng khó sửa nhất. Mở đường, xây nhà trên sườn, đào san mặt bằng làm điểm dừng chân có thể cắt ngang mương cũ, đổi hướng dòng chảy mặt và làm một số thửa mất nước vĩnh viễn. Khi bạn thấy một sườn ruộng bị bỏ khô giữa những sườn đang cấy, nguyên nhân đôi khi nằm ở một công trình phía trên chứ không phải chủ ruộng lười làm.
Câu hỏi thường gặp
Ruộng bậc thang có bị ngập úng không?
Ít khi ngập úng kiểu đồng bằng vì nước luôn có đường tràn xuống thửa dưới. Vấn đề chính khi mưa lớn là nước chảy quá mạnh, làm vỡ bờ hoặc xói vách. Thửa ở chân sườn, sát suối, có thể bị nước suối dâng tràn vào khi lũ.
Vì sao một số thửa ruộng để khô giữa mùa cấy?
Có nhiều lý do: thửa đó thiếu nước vì nằm cuối mương, chủ ruộng thiếu người làm hoặc đi làm xa, thửa bị sạt chưa kịp sửa, hoặc gia đình đã chuyển sang trồng cây khác. Bạn không nên vội kết luận là ruộng bị bỏ hoang.
Ống nhựa dẫn nước có làm hỏng ruộng bậc thang không?
Bản thân ống nhựa không làm hỏng ruộng; nó giúp đưa nước qua chỗ khó với ít công. Vấn đề là khi mỗi nhà kéo ống riêng thì tập quán dùng chung mương có thể yếu đi, nước bị lấy nhiều ở đầu nguồn, và ống cũ vứt lại thành rác trên sườn núi.
Guồng nước tre còn hoạt động ở đâu?
Guồng nước còn thấy ở một số bản người Thái tại Pù Luông (Thanh Hoá) và vài thung lũng ở Tây Bắc, nhưng số lượng giảm dần vì máy bơm và ống nhựa tiện hơn. Có nơi giữ guồng vừa để dùng vừa như một nét cảnh quan; bạn nên hỏi người dân trước khi đến xem.
Du khách có thể giúp giữ nước cho ruộng không?
Cách giúp thiết thực nhất là không làm hại hệ thống: không giẫm bờ, không dời đá hay cỏ chặn cửa tràn, không xả rác hay tắm giặt bằng xà phòng ở mương dẫn vào ruộng, và dùng nước tiết kiệm ở nơi lưu trú, nhất là vào mùa khô.
Mương phai và ruộng bậc thang có phải là một không?
Không hẳn. Mương phai là hệ thống lấy nước từ suối bằng đập nhỏ rồi dẫn theo mương, phổ biến ở cánh đồng thung lũng phẳng của người Thái. Ruộng bậc thang là cách tổ chức mặt ruộng trên sườn dốc. Một vùng có thể dùng cả hai: phai lấy nước, bậc thang giữ nước.