Ruộng bậc thang là những thửa ruộng được san phẳng và xếp thành từng tầng nối nhau trên sườn đồi, sườn núi, mỗi tầng có bờ giữ nước, để trồng lúa nước (và đôi khi cây khác) ở nơi vốn không có mặt bằng. Thay vì để nước mưa chảy tuột xuống chân dốc cuốn theo đất, người làm ruộng cắt sườn núi thành bậc, giữ nước lại ở từng thửa rồi cho chảy dần xuống thửa dưới.
Ở Việt Nam, ruộng bậc thang gắn với các thung lũng miền núi phía Bắc như vùng Mù Cang Chải và Sa Pa (nay đều thuộc Lào Cai), Y Tý, vùng Hoàng Su Phì của Hà Giang cũ, Pù Luông (Thanh Hoá) và nhiều bản nhỏ ít tên tuổi hơn. Bài dưới đây giải thích ruộng bậc thang ra đời từ nhu cầu gì, ai làm, làm thế nào, khác gì ruộng đồng bằng và vì sao một sườn ruộng là thành quả của nhiều thế hệ chứ không phải một mùa.
Vì sao lại phải làm ruộng trên sườn núi
Đất bằng ở miền núi rất ít. Đáy thung lũng rộng như cánh đồng Mường Thanh hay Mường Lò thường đã có người ở và cấy từ lâu đời; các nhóm cư dân đến sau, hoặc sống ở độ cao lớn hơn, chỉ còn sườn dốc. Nếu chỉ trồng trên nương khô thì năng suất thấp, đất bạc màu sau vài vụ, và một trận mưa lớn có thể cuốn trôi lớp đất mặt. Lúa nước cho sản lượng ổn định hơn, nhưng lúa nước cần mặt ruộng phẳng để giữ một lớp nước đều.
Ruộng bậc thang là lời giải cho mâu thuẫn ấy: tạo ra mặt phẳng nhân tạo trên địa hình dốc. Mỗi bậc là một khoảnh ruộng nhỏ; gộp lại, cả sườn núi thành một cánh đồng xếp tầng. Đổi lại, người làm phải bỏ công rất lớn để đào đắp, và phải có nguồn nước chảy quanh năm hoặc ít nhất suốt mùa cấy từ rừng đầu nguồn phía trên.
Vì thế, ruộng bậc thang thường chỉ có ở những nơi hội đủ ba điều: sườn dốc vừa phải (quá dốc thì bậc quá hẹp, bờ quá cao, dễ sụt), đất đủ dày và giữ nước (sườn đá vôi nứt nẻ thì nước thấm mất), và rừng phía trên giữ được nguồn khe. Thiếu một trong ba, người ta thường chuyển sang làm nương ngô, nương lúa khô hoặc trồng cây lâu năm.
Ai làm ruộng bậc thang ở Việt Nam
Người H'Mông. Ở vùng Mù Cang Chải, Sa Pa, Bắc Hà, nhiều sườn ruộng lớn nhất là của các bản H'Mông. Người H'Mông vốn quen canh tác nương ngô trên núi cao; khi định cư lâu dài cạnh nguồn nước, họ mở ruộng bậc thang trên những sườn đất thịt có khe chảy qua.
Người Hà Nhì. Vùng Y Tý và các bản biên giới phía tây bắc Lào Cai, cùng Mường Tè (Lai Châu), có ruộng bậc thang của người Hà Nhì. Bên kia biên giới, ruộng bậc thang của người Hà Nhì ở Hồng Hà (Vân Nam, Trung Quốc) đã được UNESCO ghi danh là di sản thế giới năm 2013, cho thấy đây là một truyền thống canh tác có chiều sâu của cả cộng đồng dân tộc này.
Người Dao, Giáy, Tày, Nùng, La Chí. Người Dao đỏ, người Giáy ở thung lũng Mường Hoa; người Nùng, Dao, La Chí ở vùng Hoàng Su Phì; người Tày, Nùng ở các thung lũng Đông Bắc như Bình Liêu đều có ruộng bậc thang, mỗi nơi một kiểu bờ, kiểu dẫn nước và lịch cấy.
Người Thái, Mường. Người Thái và người Mường chủ yếu làm ruộng ở đáy thung lũng phẳng, nổi tiếng với hệ thống mương phai lấy nước suối. Ở các thung hẹp như Pù Luông, ruộng của họ leo dần lên sườn thành những bậc thấp, xen giữa các bản nhà sàn.
Một lưu ý khi đọc. Ranh giới giữa các nhóm không cứng như trên. Nhiều sườn ruộng do nhiều dân tộc cùng làm, kỹ thuật học hỏi qua lại. Gắn một kiểu ruộng với một dân tộc chỉ là cách gọi đơn giản cho dễ nhớ.
Ruộng bậc thang khác ruộng đồng bằng thế nào
So sánh dưới đây giúp bạn hiểu vì sao cùng là ruộng lúa nước nhưng công việc và nhịp mùa ở vùng cao khác hẳn đồng bằng.
| Tiêu chí | Ruộng bậc thang vùng cao | Ruộng đồng bằng |
|---|---|---|
| Mặt bằng | Do người tạo ra bằng cách đào sườn, đắp bờ | Có sẵn, phẳng tự nhiên |
| Kích thước thửa | Hẹp, dài theo đường đồng mức, có thửa chỉ rộng vài bước chân | Rộng, vuông vức hơn |
| Nguồn nước | Nước khe, suối từ rừng phía trên, dẫn bằng mương, ống | Sông, kênh thuỷ lợi, trạm bơm |
| Số vụ | Thường một vụ lúa mỗi năm ở nơi cao, lạnh | Thường hai đến ba vụ |
| Cơ giới hoá | Khó, nhiều thửa vẫn cày bằng trâu hoặc máy nhỏ, gặt tay | Máy cày, máy gặt phổ biến |
| Rủi ro chính | Sạt bờ, thiếu nước đầu vụ, rét cuối vụ | Ngập úng, sâu bệnh, xâm nhập mặn ở một số vùng |
Điểm đáng chú ý nhất là nguồn nước. Ruộng đồng bằng dựa vào hệ thống thuỷ lợi lớn; ruộng bậc thang dựa vào rừng đầu nguồn và sự chia nước giữa các nhà trong bản. Mất rừng phía trên là ruộng phía dưới khô, chuyện này người vùng cao hiểu rõ hơn ai hết.
Một sườn ruộng được mở ra như thế nào
Không có ghi chép chính xác về thời điểm từng sườn ruộng ra đời; phần lớn được mở dần qua nhiều thế hệ. Một gia đình thường bắt đầu từ thửa gần nguồn nước, rồi mở rộng xuống dưới hoặc sang bên khi có thêm người. Việc mở thửa mới làm vào mùa khô, khi đất cứng, ít mưa, và thường đổi công giữa các nhà.
Cách làm chung là đào lấy đất phía trên đắp xuống phía dưới theo đường đồng mức, tức là đường nối các điểm cùng độ cao trên sườn. Mặt thửa được san gần phẳng, hơi nghiêng về phía trong để nước không tràn ra mép. Bờ ngoài được nện chặt, có nơi kè đá ở chân bờ cho chắc. Sau vài mùa cấy, lớp bùn mịn lắng xuống đáy thửa, bịt các khe hở, ruộng mới thật sự giữ nước tốt.
Vì đi theo đường đồng mức nên bờ ruộng uốn lượn theo hình sườn núi: chỗ sườn lồi thì bậc vòng ra, chỗ sườn lõm thì bậc ôm vào. Những đường cong mà người chụp ảnh say mê thực chất là bản đồ địa hình được vẽ bằng đất. Thửa ở sườn thoải thì rộng; thửa ở sườn dốc thì hẹp và bờ cao hơn người đứng.
Ruộng không làm xong một lần là xong. Mỗi năm, trước mùa cấy, bờ phải được đắp lại, chỗ sụt phải vá. Một sườn ruộng bỏ hoang vài năm sẽ lở dần bờ, cỏ mọc, nước không giữ được, và muốn khôi phục gần như phải làm lại từ đầu.
Những vùng ruộng bậc thang nổi tiếng ở Việt Nam
Danh sách dưới đây chỉ nêu những vùng có ruộng bậc thang là cảnh quan chính. Các thung lũng cụ thể có bài riêng trong chuyên mục theo vùng của trang.
- Vùng Mù Cang Chải (Yên Bái cũ, nay thuộc Lào Cai): những sườn ruộng lớn của người H'Mông dọc thung lũng và quanh đèo Khau Phạ; ruộng bậc thang nơi đây đã được xếp hạng là danh thắng cấp quốc gia đặc biệt.
- Sa Pa và thung lũng Mường Hoa (Lào Cai): ruộng bậc thang men theo hai bên suối Mường Hoa, xen các bản H'Mông, Dao đỏ, Giáy.
- Y Tý và vùng Bát Xát (Lào Cai): ruộng của người Hà Nhì, H'Mông ở độ cao lớn, hay có mây phủ.
- Vùng Hoàng Su Phì (Hà Giang cũ, nay thuộc Tuyên Quang): một trong những vùng ruộng bậc thang lớn nhất phía Bắc; các trang chuyên về Hà Giang viết kỹ hơn.
- Pù Luông (Thanh Hoá): ruộng bậc thang thấp xen ruộng thung, có guồng nước tre của người Thái.
- Bình Liêu (Quảng Ninh), vùng Tú Lệ, Than Uyên và nhiều bản ở Lai Châu, Điện Biên: quy mô nhỏ hơn nhưng vẫn là cảnh quan đặc trưng.
Ngoài các tên quen thuộc, gần như thung lũng nào ở miền núi phía Bắc có dân cư lâu đời và có nước khe đều có vài sườn ruộng bậc thang. Nhiều khi cảnh đẹp nhất lại nằm ở một bản nhỏ bạn tình cờ đi qua, nơi chưa có ai dựng điểm dừng chân.
Những hiểu lầm thường gặp về ruộng bậc thang
"Ruộng bậc thang quanh năm lúc nào cũng xanh hoặc vàng." Thực tế phần lớn thời gian trong năm ruộng vùng cao là đất trống, gốc rạ hoặc cỏ. Màu nước, màu mạ non, màu lúa chín chỉ kéo dài vài tuần mỗi giai đoạn. Đi vào mùa đông, bạn gặp một sườn núi nâu xám, cũng là một gương mặt thật của ruộng.
"Ruộng càng cao càng cổ." Không có quy luật như vậy. Thửa cao có thể được mở sau cùng khi bản đông người hơn, cũng có thể là thửa đầu tiên vì gần nguồn nước. Muốn biết lịch sử một sườn ruộng, cách tốt nhất là hỏi người cao tuổi trong bản.
"Ruộng bậc thang là canh tác thô sơ." Đây là một hệ thống kỹ thuật tinh tế: chọn sườn, tính độ dốc mương, giữ mực nước từng thửa, chia nước giữa nhiều nhà. Các nhà nông học vẫn nghiên cứu ruộng bậc thang như một mô hình giữ đất, giữ nước trên đất dốc.
"Người dân làm ruộng bậc thang để phục vụ du lịch." Ruộng có trước du lịch rất lâu và trước hết để nuôi gia đình. Du lịch mang lại thêm thu nhập cho một số bản, nhưng không thay được lý do người ta cấy lúa.
Ruộng bậc thang không chỉ là cảnh đẹp
Với du khách, ruộng bậc thang là cảnh để ngắm. Với người trong bản, đó trước hết là nồi cơm của gia đình, là tài sản để lại cho con cháu và là một hệ thống phải giữ gìn chung. Nước từ thửa nhà này chảy sang thửa nhà kia, mương của bản phải nhiều nhà cùng khơi, bờ sụt ở thửa trên có thể làm hỏng thửa dưới. Vì vậy, quanh ruộng bậc thang luôn có những luật lệ, tập quán chia nước và đổi công của cộng đồng.
Ruộng bậc thang cũng là một cách giữ đất. So với nương dốc cày xới hằng năm, các bậc ruộng có bờ làm chậm dòng chảy, giữ lại phù sa mịn và giảm xói mòn. Khi được chăm đều, cả sườn ruộng giống như một chuỗi hồ nhỏ điều hoà nước. Khi bị bỏ hoang hoặc san ủi tuỳ tiện, chính các bậc đất ấy có thể trở thành điểm yếu, dễ sạt khi mưa dồn.
Khi đến một vùng ruộng bậc thang, bạn sẽ thấy cảnh đẹp nhiều hơn nếu biết mình đang nhìn vào cái gì: thửa nào mới đắp bờ, mương nào dẫn nước từ khe nào xuống, vì sao có khu đã cấy mà khu bên cạnh còn khô. Và bạn sẽ hiểu vì sao không nên giẫm lên bờ ruộng hay lội xuống thửa để chụp ảnh: một chỗ bờ sụt là cả buổi công của người làm ruộng.
Câu hỏi thường gặp
Ruộng bậc thang ở Việt Nam có từ bao giờ?
Không có tư liệu xác định niên đại chung cho ruộng bậc thang ở Việt Nam. Mỗi sườn ruộng được mở dần qua nhiều thế hệ, gắn với lịch sử định cư của từng bản. Những con số "hàng trăm năm" hay "hàng nghìn năm" thường là cách nói ước lượng, bạn nên đọc thận trọng.
Ruộng bậc thang có trồng gì ngoài lúa không?
Có. Phần lớn ruộng bậc thang vùng cao cấy một vụ lúa, sau vụ gặt một số nơi trồng rau, cải, đậu hoặc để đất nghỉ qua đông. Ở một số bản, ruộng cạn bậc thang trồng ngô, đậu tương, và có nơi chuyển sang trồng cây ăn quả hoặc rau hàng hoá.
Vì sao ruộng bậc thang thường chỉ có ở miền Bắc?
Miền núi phía Bắc có nhiều sườn đất dày, rừng đầu nguồn giữ nước và các cộng đồng có truyền thống làm lúa nước trên dốc. Miền Trung và Tây Nguyên cũng có ruộng bậc thang nhưng ít và nhỏ hơn, vì nhiều nhóm cư dân ở đó quen làm rẫy khô hoặc ruộng ở thung lũng phẳng.
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải là di sản thế giới phải không?
Không. Ruộng bậc thang vùng Mù Cang Chải là danh thắng được xếp hạng cấp quốc gia đặc biệt của Việt Nam, không phải di sản thế giới UNESCO. Ruộng bậc thang được UNESCO ghi danh ở gần ta là ruộng Hà Nhì ở Hồng Hà (Trung Quốc) và ruộng của người Ifugao ở Philippines.
Có được đi bộ trên bờ ruộng bậc thang không?
Bạn nên đi trên đường mòn chung, lối đi lát đá hoặc bờ mương mà người dân vẫn dùng làm lối đi. Bờ ruộng mới đắp vào mùa nước đổ còn mềm, giẫm lên dễ sụt. Nếu buộc phải đi qua bờ ruộng, hãy hỏi chủ ruộng hoặc người dẫn đường và bước đúng chỗ họ chỉ.
Ruộng bậc thang có phải do nhà nước làm không?
Phần lớn ruộng bậc thang là do người dân trong bản tự mở qua nhiều đời, bằng sức lao động của gia đình và cộng đồng. Những năm gần đây, một số địa phương có chương trình hỗ trợ khai hoang, làm mương, kè bờ hoặc giữ cảnh quan phục vụ du lịch, nhưng nền tảng vẫn là công sức của người làm ruộng.